Giáo dục

Top 9 bài phân tích quá trình thức tỉnh của Chí Phèo siêu hay

Quá trình thức tỉnh của Chí Phèo chính là phân đoạn trình bày rõ rệt nhất về tính nhân văn trong tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao. Trong bài viết này Hoatieu xin san sớt tới các bạn các bài phân tích quá trình hồi sinh của Chí Phèo hay nhất để các bạn có thêm tư liệu tham khảo ôn tập môn Ngữ văn lớp 11.

  • Top 5 bài phân tích truyện ngắn Chí Phèo hay thâm thúy
  • Top 5 bài phân tích diễn biến tâm trạng Chí Phèo sau lúc gặp Thị Nở siêu hay

Chí phèo là một truyện ngắn của tác giả Nam Cao kể về thảm kịch cuộc đời của nhân vật Chí phèo. Ban đầu tác phẩm có tên là Cái lò gạch cũ về sau đã được tác giả đổi lại là Chí Phèo. Có thể nói quá trình tha hóa và sự thức tỉnh của Chí Phèo chính là điểm nổi trội về trị giá hiện thực cũng như trị giá nhân đạo của tác phẩm. Trong bài viết này Hoatieu xin san sớt dàn ý phân tích quá trình thức tỉnh của Chí Phèo kèm theo các bài văn mẫu phân tích quá trình hồi sinh của nhân vật Chí phèo để độc giả hiểu rõ hơn về trị giá nhân đạo nhân văn thâm thúy trong tác phẩm.

1. Dàn ý về sự thức tỉnh của Chí Phèo

I. Mở bài

– Giới thiệu tác giả Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo: Một tác giả lúc nào cũng trằn trọc về cách sống và cách viết, luôn nhìn đời bằng con mắt của tình thương. Chí Phèo là một tác phẩm Nam Cao đã dùng tình thương để nhìn và để viết nên tương tự

– Với cái nhìn đầy tình thương, Nam Cao đã để cho sự lương thiện một lần nữa quay trở về với Chí sau lúc gặp được Thị Nở

II. Thân bài

1. Khái quát về hoàn cảnh Chí Phèo trước lúc gặp Thị Nở

– Chí Phèo đã từng là một người nông dân lương thiện

– Sau lúc bị Bá Kiến hãm hại, Chí Phèo bị bắt vào tù

– Nhà tù Thực dân đã biến Chí từ một người nông dân 20 tuổi lương thiện trở thành một người thay đổi cả nhân hình lẫn nhân tính:

– Làm tay sai cho Bá Kiến

⇒ Trước lúc gặp Thị Nở, Chí Phèo bị coi là “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”

2. Cuộc gặp mặt giữa Chí Phèo và Thị Nở

– Hoàn cảnh gặp mặt:

+ Không người nào đáp lại lời chửi của Chí Phèo nên “hắn” rẽ vào nhà Tự Lãng uống rượu

+ Khi đã hể hả, Chí Phèo lảo đảo ra về

+ Hắn gặp một người nữ giới ngủ quên ở bờ sông gần nhà (Thị Nở)

+ Trong cơn say, Chí Phèo ăn nằm với Thị Nở và ngủ say dưới trăng

⇒ Cuộc gặp mặt định mệnh này đã đem lại những lay chuyển tâm lí rõ nét trong Chí Phèo

3. Diễn biến tâm trạng nhân vật Chí Phèo sau lúc gặp Thị Nở

a. Thức tỉnh

– Sau cuộc gặp mặt với Thị Nở, lần trước tiên Chí Phèo thực sự “tỉnh”

+ Chợt trông thấy ở trong cái lều ẩm thấp của Chí sẽ thấy “chiều lúc xế trưa và gặp đêm lúc bên ngoài vẫn sáng”

+ Bâng Khuâng như tỉnh dậy sau một cơn say rất dài

+ Tỉnh để cảm thấy mồm đắng và “lòng mơ hồ buồn”

+ Cảm thấy “sợ rượu” ⇒ tín hiệu của sự thức tỉnh rõ ràng nhất

+ Cảm nhận những thanh âm của cuộc sống: âm thanh của tiếng chim hót, tiếng người cười nói…

+ Hắn đủ tỉnh để nhận thức hoàn cảnh của mình, để thấy mình cô độc

⇒ Cuộc gặp với Thị đã làm Chí Phèo thực sự tỉnh táo sau những cơn say triền miên

b. Niềm vui, hi vọng, ước mơ quay trở về

– Niềm hi vọng của thời trẻ quay trở lại: mong muốn một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải; nuôi lợn, khá giả thì sắm năm ba sào ruộng

– Khi thấy bát cháo hành của Thị Nở, Chí Phèo ngạc nhiên và thấy “mắt mình như ươn ướt” ⇒ xúc động vì lần trước tiên có người chăm sóc

– Thđó Thị Nở có duyên, cảm thấy vừa vui vừa buồn

– Hắn muốn làm nũng với Thị, thấy lòng thành trẻ em

– Chí Phèo thèm lương thiện: Tình yêu của Thị Nở làm hắn nghĩ bản thân có cầu nối để trở về

– Tình yêu với Thị Nở khiến hắn đủ hi vọng và mong ước có một gia đình: “Hay là mình sang ở với tớ một nhà cho vui”

⇒ Gặp Thị Nở, Chí Phèo đã trải qua những xúc cảm chưa hề có trong đời, mang tới thú vui, niềm hi vọng và mong ước trở về làm người lương thiện trỗi dậy

c. Thất vọng, đớn đau

– Tình yêu bị nghiêm cấm bởi bà cô thị Nở, bởi vậy, lúc Thị Nở từ chối, Chí Phèo thất vọng và đớn đau:

+ “Ngẩn người”, “ngẩn mặt”: Thái độ biểu thị sự hiểu ra, nhận thức được tình cảnh của mình ⇒ đáng thương

+ Thoáng thấy hương cháo hành: hồi ức về tình yêu đã trải qua

+ Hành động: Nắm lấy tay Thị ⇒ mong muốn níu kéo hạnh phúc

+ Hắn tìm tới rượu rồi “ôm mặt khóc rưng rức”

⇒ Mong muốn trở về làm người lương thiện ko còn nữa, Chí đớn đau, vô vọng

d. Phẫn uất

– Mong muốn quay trở lại làm người lương thiện ko thể thực hiện được, niềm phẫn uất trong Chí đẩy lên cao

– Hắn quyết định tới nhà thị Nở “để đâm chết cả nhà nó, đâm chết cái con khọm già nhà nó”.

– Nhưng “hắn ko rẽ vào nhà thị Nở nhưng thẳng đường tới nhà Bá Kiến và nói thẳng với Bá Kiến: niềm phẫn uất đã khiến Chí Phèo xác định đúng quân thù của mình

⇒ Hành động tự kết liễu trình bày sự phẫn uất và vô vọng tới tột cùng

III. Kết bài

– Khái quát lại diễn biến tâm trạng của Chí Phèo sau lúc gặp Thị Nở

– Liên hệ trình diễn suy nghĩ bản thân

2. Phân tích quá trình thức tỉnh của Chí Phèo mẫu 1

Nam Cao là một nhà văn hiện thực lớn có tư tưởng nhân đạo vừa thâm thúy, mới mẻ, vừa lạ mắt. Ông là nhà văn hiện thực xuất sắc tràn đầy ý thức nhân đạo, chuyên viết về hai đề tài: người trí thức nghèo sống mòn mỏi, tuyệt vọng trong xã hội cũ và người nông dân bị bần hàn hóa, lưu manh hóa trước Cách mệnh tháng Tám. Trong đó, Chí Phèo là một tuyệt bút trong văn xuôi Việt Nam hiện đại của nhà văn Nam Cao viết vào năm 1941. Truyện kể lại cuộc đời của một người dân cùng khổ tên là Chí Phèo. Chí Phèo là bộc lộ sống động của thảm kịch sinh ra là người nhưng ko được làm người. Câu chuyện có nhiều thảm kịch, nhưng đặc thù, trong đó quá trình thức tỉnh hồi sinh và thảm kịch cự tuyệt của Chí Phèo trong tác phẩm là một trong những đoạn trình bày thâm thúy ý nghĩa nhân văn và trị giá nhân đạo của tác phẩm.

Chí Phèo, nguyên là một đứa con hoang, bị bỏ rơi nơi lò gạch cũ lúc vừa mới sơ sinh, vốn là người nông dân hiền lành, lương thiện nhưng đã bị xã hội phong kiến bóc lột, đè nén, áp bức trở thành “con quỷ dữ làng Vũ Đại”. Bá Kiến đã đẩy Chí Phèo vào tù, biến Chí từ một người nông dân hiền lành trở thành một thằng lưu manh và trở thành tay sai đắc lực cho bọn cường hào trong làng. Chí gần như sống trong vô thức, bị xã hội ruồng bỏ, bị cướp mất quyền làm người, bị cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính. Và cứ thế Chí Phèo say triền miên. Say để quên đi quyền làm người, say để làm những việc nhưng người ta ủy quyền hắn làm, đốt phá, cướp giật, doạ nạt… của bao người dân lương thiện. Những cơn say của hắn tràn cơn này sang cơn khác, thành một cơn dài, mênh mông, hắn ăn trong lúc say, thức dậy hãy còn say… Chưa bao giờ hắn tỉnh, và có nhẽ hắn chưa bao giờ tỉnh táo, để nhớ có hắn ở đời.

Cứ tưởng Chí Phèo mãi mãi sống kiếp thú vật, rồi sẽ kết thúc bằng cách vùi xác ở một bờ bụi nào đó, nhưng bằng tài năng và nhất là bằng trái tim nhân đạo của một nhà văn lớn, Nam Cao đã để Chí Phèo trở về sống kiếp người một cách tự nhiên. Ông đã soi rọi ánh sáng của tình mến thương vào tận đáy tâm hồn đen tối của con quỷ dữ làng Vũ Đại. Trong một đêm say, hắn tình cờ gặp Thị Nở – người nữ giới dở hơi xấu xí, và quá lứa lỡ thời. Đêm hôm đó, họ ăn nằm với nhau, sự chung đụng trùng hợp đó, mang tính bản năng của người đàn ông trong cơn say. Những phẩm chất của người nông dân lao động tiềm tàng sâu trong con người hắn tự dưng được khơi dậy. Chút tình mến thương mộc mạc, tự nhiên cùng với sự quan tâm chăm sóc giản dị của Thị Nở đã đánh thức lương tri, đánh thức thực chất lương thiện vốn có trong con người Chí. Chính nhờ cuộc gặp mặt đó, đã thức tỉnh phần người trong Chí, giúp Chí cởi bỏ cái vỏ quỉ dữ để sống lại làm người, khát khao hoàn lương, lương thiện.

Đoạn văn mô tả tâm trạng Chí Phèo sau đêm gặp Thị Nở chứng tỏ Nam Cao xứng đáng bậc thầy về phân tích tâm lí nhân vật. Tỉnh rượu, Chí thấy lòng chợt bâng khuâng ”mơ hồ buồn”. Những lần trước, mỗi lúc tỉnh rượu, hắn lại uống, vì thế say kế tiếp say. Còn lần này, Chí Phèo tỉnh rượu với trạng thái khác hẳn “người thì bủn rủn, tay chân ko buồn nhấc; hay là đói rượu, hắn hơi rùng mình. Ruột gan lại nôn nao lên một tí. Hắn sợ rượu như những người ốm sợ cơm”. Sau bao năm, lần trước tiên trong cuộc đời Chí tỉnh dậy, chợt trông thấy nơi căn lều ẩm thấp là ánh nắng ngoài kia rực rỡ biết bao, nghe thấy mọi âm thanh của cuộc sống: tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá trên sông, tiếng lao xao của người đi chợ bán vải về… Những âm thanh thân thuộc đó hôm nào nhưng chả có, nhưng hôm nay Chí mới cảm nhận và nghe thấy, vì hôm nay Chí đã hết say. Phcửa ải chăng, những âm thanh đó chính là tiếng gọi nô nức, thiết tha, tiếng gọi thôi thúc của cuộc sống đã vang lên rộn ràng trong tâm hồn vừa được khơi dậy của Chí… Sau đó Chí tỉnh ngộ, nhìn lại cuộc đời mình cả trong quá khứ, hiện nay và tương lai. Hơn hết, cái ước mơ bình dị ngày nào ”có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải…” bỗng dưng trở lại với Chí. Chí đã tỉnh rượu và thức tỉnh về tình cảm và nhận thức. Chí thấy hiện nay của mình thật đáng buồn bởi “hắn đã tới cái dốc bên kia của cuộc đời”. Tương lai đối với hắn, còn đáng buồn hơn, hắn còn lo sợ bởi hắn đã trông thấy trước “tuổi già, đói rét và ốm đau” và nhất là “cô độc”. Sau những tháng ngày sống gần như vô thức, Chí đã tỉnh táo và triền miên trong suy nghĩ và xúc động. Như vậy, với sự trở lại của lí trí và nhận thức về chính mình, cùng những tình cảm, xúc cảm của một con người, Chí đang thức tỉnh một cách toàn diện cả về nhận thức và ý thức và mở màn hồi sinh để trở về với kiếp người. Ngòi bút Nam Cao ở đây thật ấm áp, trình bày từng bộc lộ của sự thức tỉnh ở Chí Phèo. Ông thật sự rất yêu quý những người lao động chân chính. Vì hoàn cảnh nhưng họ bị đẩy vào tuyến đường tội tình. Nhưng ngay cả lúc bị cuộc đời làm biến dạng nhân hình và làm méo mó nhân tính thì Nam Cam vẫn nhìn thấy vẻ đẹp trong sáng luôn tiềm tàng trong con người họ. Họ chỉ cần gặp điều kiện thuận tiện thì phần người sẽ bừng dậy một cách mạnh mẽ.

Đúng lúc đó thì Thị Nở bưng tới cho Chí Phèo bát cháo hành đang ngun ngút khói. Và nếu như Thị Nở ko qua, chắc là hắn đã khóc được mất. Việc làm này của thị khiến hắn từ ”hết sức ngạc nhiên” tới xúc động ”thấy mắt mình như ươn ướt” bởi vì một lẽ hết sức đơn giản “lần trước tiên hắn được người ta cho…”, “đời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi bàn tay nữ giới”. Hắn còn cảm nhận về hương vị cháo hành, nó thơm và ngon lắm. Thị Nở còn cảm nhận thấy hắn rất hiền. Dưới ánh sáng của tình yêu, thị Nở bỗng trở thành một người nữ giới có duyên, cũng biết lườm yêu, biết rụt rè, biết ”ngượng ngùng nhưng thinh thích lúc nghe hai tiếng ”vợ chồng”. Bát cháo hành của thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Trái tim tưởng dường như chai đá của Chí Phèo đã dần dần sống dậy. Cái phần người trong hắn cũng hồi sinh. Chí đã sống đúng với con người thật của mình, trở lại nguyên hình của anh canh điền ngày xưa. Hành động chăm sóc đầy tình cảm mến thương đó làm tâm trạng Chí đi từ xúc động tới ăn năn, lai tỉnh. Tình yêu của Thị Nở đã mở đường cho Chí Phèo trở lại làm người: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao… Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại ko thể được”. Cùng với mong ước được làm người lương thiện, Chí khát khao hạnh phúc và một mái ấm gia đình. Và hắn nói “Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?”. Lúc này nội tâm của Chí đã bừng tỉnh, lương tri của hắn đã trỗi dậy nhưng thôi thúc tình cảm hắn. Hắn thật sự muốn ”thế này” đó là muốn được ăn cháo hành, được sống kế bên thị Nở, được thị quan tâm, chăm sóc, mến thương và được làm nũng với thị… “Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui” một mái ấm gia đình vui vẻ, hạnh phúc, câu nói này giống như một lời cầu hôn của Chí với thị Nở – một lời cầu hôn rất canh điền, chất phác, giản dị. Hắn muốn sống như một con người đúng nghĩa, khát khao được trở lại với cuộc sống tầm thường, được làm hòa với mọi người. Thị Nở sẽ là cây cầu nối giữa hắn với cuộc đời. Chí Phèo bâng khuâng, hào hứng nghĩ tới một tương lai tốt đẹp. Chính tình người của Thị Nở đã thức tỉnh hồi sinh tình người trong Chí Phèo, thế mới biết sức cảm hóa của tình thương kỳ diệu biết nhường nào! Phát hiện và mô tả quá trình thức tỉnh của Chí Phèo là một thành công nghệ thuật rực rỡ của Nam Cao. Tác giả đã khéo lựa chọn những cụ thể rất chân thực thể, mô tả tâm lí nhân vật sắc sảo hiện lên ý nghĩa của sự hồi sinh là sự khẳng định sức sống của thiên lương, của lòng lương thiện.

Nhưng, thảm kịch và đớn đau thay, cánh cửa cuộc đời vừa hé mở thì cũng ngay tức tốc đóng sầm lại trước mắt Chí Phèo, rốt cuộc thì ngay chút tình thương yêu của Thị Nở ko đủ mạnh để cứu hắn. Lời nói của bà cô Thị Nở như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt Chí Phèo làm tắt ngúm ngọn lửa lòng vừa được nhen lên trong Chí. “Ai lại đâm đầu đi lấy một thằng ko cha ko mẹ như cái thằng Chí Phèo” đã trở thành thành kiến khắc nghiệt lấp mất lối về của Chí. Cũng như mọi người dân làng Vũ Đại khác, bà đã quen coi Chí là một thằng lưu manh, hơn thế nữa là một con quỷ dữ. Rồi cả Thị Nở, người nữ giới nhưng hắn đặt trọn lòng hi vọng đó nghe lời bà cô cũng ”dướn cái môi lớn lao nhưng ném vào hắn bao lời chửi mắng”. Như thế, Chí Phèo thật sự rơi vào một thảm kịch ý thức đớn đau. Đó chính là thảm kịch của một con người chết trên ngưỡng cửa trở về với cuộc sống lương thiện. Chút hạnh phúc nhỏ nhoi, mong ước được trở lại cuộc sống lương thiện cuối cùng vẫn ko tới được với Chí Phèo. Và thật là khắc nghiệt, lúc bản tính người nơi Chí Phèo trỗi dậy, cũng là lúc Chí Phèo hiểu rằng mình ko còn trở về với lương thiện được nữa. Thành kiến xã hội thông qua bà cô thị Nở ko cho hắn đặt chân lên nhịp cầu kỳ vọng. Nói xa hơn, cái xã hội thực dân nửa phong kiến đó đã cướp đi của Chí quyền làm người và vĩnh viễn ko trả lại. Nó đã tiêu hủy và đã bẻ gãy chiếc cầu nối Chí với cuộc đời.

Chí Phèo một lần nữa bị hắt hủi, ruồng bỏ phũ phàng. Chí Phèo lại uống rượu trong nỗi vô vọng, đớn đau tột cùng ”ôm mặt khóc rưng rức”. Chí Phèo uống thật say, nhưng lần này ko như mọi lần, càng say thì Chí lại càng tỉnh, càng tỉnh càng trông thấy thảm kịch của cuộc đời mình. Phẫn uất, vô vọng Chí xách dao đi định tới nhà Thị Nở. Trong ý định, Chí định tới nhà đâm chết con “khọm già”, con “đĩ Nở” nhưng sự thức tỉnh ý thức về thân phận và thảm kịch đã đẩy chệch hướng đi của Chí dẫn Chí tới thẳng nhà Bá Kiến. Hơn người nào hết lúc này Chí thấm thía tội ác của kẻ đã cướp đi quyền làm người của mình rằng: kẻ đã làm cho mình phải mang lốt quỷ, kẻ đã làm mình ra nỗng nỗi khốn cùng này chính là Bá Kiến. Anh càng thấm thía tội ác kẻ đã cướp đi quyền làm người, cướp đi cả khuôn mặt và vong hồn của mình. Chí Phèo tới nhà Bá Kiến với tư cách là một nô lệ thức tỉnh, đòi quyền làm người. Thống thiết thay là tiếng kêu của Chí Phèo cuối tác phẩm: ”Tao muốn làm người lương thiện!… Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những mảnh vết chai trên mặt này?… Tao ko thể làm người lương thiện nữa! Biết ko! Chỉ có một cách… biết ko!” Đó là những câu hỏi vút lên đầy đắng cay và ko lời trả lời. Câu hỏi chất chứa nỗi đớn đau đầy phẫn uất của một con người thấm thía được nỗi đau khôn xiết của thảm kịch tư nhân. Câu hỏi đánh thẳng vào khuôn mặt của xã hội bất nghĩa. Câu hỏi như cứa vào tâm can người đọc về một thân phận con người đầy đắng cay trong xã hội cũ. Căm thù cao độ và ko còn lối thoát. Chí Phèo đã làm thịt bá Kiến rồi tự tử, lấy sự hủy diệt đời mình để khắc phục sự tuyệt vọng của số phận. Chí đã chết lúc cánh cửa cuộc đời đã đóng chặt trước mặt anh ko cho anh trở lại. Đó là sự thức tỉnh về quyền sống, ko chấp thu được cuộc sống của một con quỷ dữ nữa, anh muốn hoàn lương nhưng xã hội đâu cho, bởi cái khát khao mãnh liệt được làm người đã bị dập tắt. Lương thiện có ngay trong mỗi con người là di sản ý thức của mỗi người. Vì sao phải đi đòi lương thiện? À, thì ra Chí đã bị cái xã hội vô nhân tính đó cướp mất. Khốn nạn thay cho Chí, ngay cả cái quyền được làm một con người cũng bị xã hội người ăn thịt người đó bóp nát. Cái chết bi thương của Chí Phèo là lời tố cáo mãnh liệt cái xã hội vô nhân đạo, xã hội thực dân nửa phong kiến. Cái chết đó là cái chết của con người trong thảm kịch đớn đau trước ngưỡng cửa về cuộc sống làm người, là tiếng kêu cứu về quyền làm người, cũng là tiếng gọi của nhà văn: Hãy cứu lấy con người! Hãy mến thương con người!

Với nhân vật Chí phèo, Nam Cao đã đặt ra thảm kịch của người nông dân trước cách mệnh: đó là thảm kịch con người sinh ra là người nhưng ko được làm người. Điều này trình bày sự thông cảm thâm thúy của Nam Cao với khát vọng lương thiện trong con người và sự tuyệt vọng của những khát vọng trong hiện thực xã hội đó. Tác phẩm mang ý nghĩa triết lí thâm thúy được trình bày dưới hình thức nghệ thuật vô cùng lạ mắt. Tác giả đã khéo lựa chọn những cụ thể rất chân thực, mô tả tâm lí nhân vật, xây dựng nhân vật tiêu biểu trong hoàn cảnh tiêu biểu cùng với tình tiết và các tình tiết quyến rũ, biến hóa bất thần.

Tác phẩm Chí Phèo thông qua quá trình thức tỉnh hồi sinh và thảm kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật chính, nhà văn đã mang tới những trị giá nhân văn cao đẹp. Tác phẩm đã lên án, tố cáo tội ác của cơ chế thực dân nửa phong kiến đã đàn áp và bóc lột nhân dân lao động. Qua đó nhà văn đồng cảm với những nỗi khổ đau, bị đày đọa và sự tuyệt vọng của những khát vọng của người nông dân. Đồng thời nhà văn cũng kịp thời phát hiện và trân trọng trước vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật và khát khao thay đổi thực tại để mang tới một cuộc sống tốt đẹp hơn.

3. Phân tích quá trình thức tỉnh của Chí Phèo mẫu 2

Truyện ngắn “Chí Phèo” là một tuyệt bút của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại của nhà văn hiện thực và nhân đạo Nam Cao. Qua tác phẩm, tác giả đã vẽ nên một bức tranh thê thảm, đầy bi thương của những kiếp sống lương thiện nhưng nghèo đói đã bị tha hóa cả về thể xác lẫn vong hồn. Tiêu biểu cho những kiếp người đó chính là nhân vật “Chí Phèo” và những thảm kịch nhưng hắn phải chịu đựng, nếm trải trong chặng đường đời của mình.

Xuyên suốt toàn thể tác phẩm, người đọc dõi theo từng bước chân của Chí từ một người dân lương thiện tầm thường cho tới lúc trở thành “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại và cuối cùng là cái chết tuy bi thương nhưng lại là cách giải thoát tốt nhất khỏi những thảm kịch nhưng Chí đang phải chịu đựng. Người đọc ko thể quên hình ảnh của Chí lúc mới ở tù ra với “cái đầu trọc lốc, răng cạo trắng hớn, mặt đen lại”, “cái ngực phanh ra đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm trùy trông gớm chết”. Để rồi từ đó, cuộc đời hắn chìm trong men rượu, trong cơn say hắn đã làm biết bao tội ác, hắn phá vỡ hạnh phúc của biết bao nhiêu gia đình, làm chảy máu và nước mắt của biết bao nhiêu người lương thiện.

Những tưởng cuộc đời hắn sẽ trượt dài trong tội tình nhưng rồi ở phần cuối của tác phẩm, Chí Phèo đã có ý thức vươn lên khát khao được làm người lương thiện, đỉnh điểm của khát khao đó là hành động xách dao tới nhà bà cô Thị Nở nhưng lại đi thẳng tới nhà Bá Kiến để đòi lương thiện. Khi trông thấy một sự thực khổ cực tới mức vô vọng là hắn ko thể trở lại làm người lương thiện được nữa thì hắn đã làm thịt Bá Kiến – nguyên nhân chính tạo nên mọi thảm kịch của cuộc đời Chí và tự kết liễu đời mình để giải thoát khỏi cuộc sống khổ cực hiện nay. Vậy động lực nào đã xúc tiến Chí hoàn lương? Đó chính là tình thương của Thị Nở và bát cháo hành của Thị.

Bát cháo hành của Thị Nở tuy giản đơn, mộc mạc chỉ có một tí cháo trắng với hành nhưng có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự hồi sinh thức tỉnh của Chí. Bát cháo được nấu lên bằng tình mến thương thật tình, sự thông cảm, thấu hiểu của Thị Nở dành cho Chí, chính vì vậy nhưng nó có sức lay động mạnh mẽ thực chất lương thiện vốn đã bị vùi sâu trong tâm hồn Chí. Nếu như trước đây, hắn chỉ biết uống rượu, rạch mặt, ăn vạ, rồi gây nên biết bao nhiêu tội ác thì giờ đây sau lúc ăn bát cháo hành của Thị Nở hắn thấy lòng thành trẻ em. Hắn muốn làm nũng với Thị như với mẹ. Chưa bao giờ ta thấy hắn hiền như lúc này…Khi thu được bát cháo hành từ tay Thị, Chí rất ngạc nhiên, hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt mình ươn ướt. Vậy là Chí đã khóc, một con người đã lấy đi biết bao nhiêu nước mắt của người khác vậy nhưng giờ đây chính hắn lại khóc. Hắn đã khóc, khóc vì đây là lần thứ nhất hắn được người ta cho, lại được cho bởi tay một người nữ giới. Trước đây, chỉ toàn là đi cướp giật của người khác, hắn thấy “xưa nay có thấy tự nhiên người nào cho người nào cái gì”. Hắn nhìn bát cháo bốc khói nhưng bâng khuâng, vừa vui vừa buồn và một cái gì nữa giống như là ăn năn, hối lỗi…Và đây cũng là lần trước tiên Chí biết tới cái duyên của một người, đó là lúc Thị Nở múc cháo “nhìn trộm hắn rồi lại cười toe toét. Trông Thị thế nhưng có duyên”. Nhìn Thị hắn nghĩ lại quá khứ trong khi hắn phải chăm sóc cho bà ba, phải làm những việc xấu xa hắn thấy nhục hơn là thích. Bát cháo hành của Thị Nở có sức mạnh thật kì diệu, nó đã làm cho một người như Chí phải suy nghĩ: “Hắn có thể tìm bạn được, sao lại chỉ gây thù?”.

Đồng thời, bát cháo đó đã lấy lại sức khỏe cho hắn bởi vì hắn càng ăn mồ hôi lại càng ra nhiều. Và tất nhiên, điều này rất tốt đối với một người bị cảm gió như hắn. Tuy chỉ là bát cháo hành tầm thường thôi nhưng nó đã giúp Chí khỏi bệnh, hắn thấy bát cháo mới thơm ngon làm sao, những người suốt đời ko ăn cháo hành sẽ ko biết rằng cháo hành ăn rất ngon… nhưng vì sao mãi tới tận hiện thời hắn mới nếm vị mùi cháo, tự hỏi để rồi tự mình trả lời. Đó chính là bởi vì đời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi tay một người nữ giới. Sự gặp mặt với Thị Nở như là một điều kì diệu đối với Chí, hình ảnh của Thị giống như một vị phúc tinh trong cuộc đời u ám, say triền miên với những chuỗi dài thảm kịch của Chí Phèo. Điều đặc thù hơn, đây là tình cảm đáng trân trọng giữa những con người có hoàn cảnh khốn cùng.

4. Phân tích quá trình thức tỉnh của Chí Phèo ngắn gọn

Sinh thời, lúc cầm bút, Nam Cao hằng tâm niệm “Thông minh là yêu cầu sống còn của văn học, nghệ thuật”. Vì thế, hướng ngòi bút tới đề tài thân thuộc đó là cuộc sống khốn khổ của người nông dân trước cách mệnh tháng Tám nhưng Nam Cao chọn cho mình một lối đi riêng. Khác với nhân vật trong truyện ngắn của Thạch Lam là được đặt vào trong một khoảnh khắc nhất mực, nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao thường là những nhân vật có tính cách tiêu biểu và được đặt trong hoàn cảnh tiêu biểu. Đặc trưng, nhắc tới Nam Cao người ta ko thể ko nhắc tới Chí Phèo – nhân vật bước vào trang văn, ngật ngưỡng với dáng diệu của một kẻ say. Những diễn biến tâm lí của Chí Phèo lúc đón nhận bát cháo hành của Thị Nở đã được Nam Cao diễn tả một cách chân thực, tài tình tới cảm động.

Chí Phèo đang vẩn vơ nghĩ về đời mình thì thị mang tới một nồi cháo hành. Sự quan tâm mộc mạc, giản dị chân tình đó đã làm tâm hồn Chí thay đổi tới bất thần, mạnh mẽ. Lòng Chí trào dâng bao xúc cảm: bâng khuâng, ngỡ ngàng, ngạc nhiên, vui tươi, xúc động rồi lại nuối tiếc, buồn tẻ, xót xa, lại có cái gì như là ăn năn hối hận nữa. Chí ngỡ ngàng ngạc nhiên, cảm động tới ứa nước mắt. Vì đây là lần trước tiên hắn ko phải dọa nạt, đâm chém nhưng vẫn có cái ăn. Lần trước tiên, hắn được một người nữ giới chăm sóc ân tình. Nhưng Chí ko khỏi ngậm ngùi, đắng cay, buồn tủi, xót xa vì mãi tới tận hiện thời hắn mới được nếm mùi cháo. Cái hạnh phúc giản dị, đơn sơ khiến người ta thấy tội nghiệp sao lại tới với Chí muộn màng tới tương tự. Chí còn hối hận, ăn năn. Hành động của Thị Nở đã làm Chí suy nghĩ nhiều và Chí bỗng ngộ ra một điều rằng: Chí có thể làm bạn được sao lại gây quân thù. Dù rất hiếm hoi nhưng trên cõi đời vẫn còn có những vòng tay mến thương, vẫn còn những tấm lòng nhân ái, bao dung. Trong đoạn văn diễn tả sự hồi sinh của Chí Phèo lúc đón nhận bát cháo hành của Thị Nở, cụ thể Chí Phèo khóc có nhẽ là cụ thể ấn tượng nhất. Có thể nói, Nam Cao luôn tin vào nước mắt của con người bởi một lúc họ khóc có tức là trong người họ vẫn cón chút lương thiện, nó chưa bị phá hủy hoàn toàn nhưng vẫn sống thầm lặng lặng lẽ. Vậy là chính tình người mộc mạc, giản dị của Thị Nở đã làm hồi sinh tình người trong Chí. Cái lốt quỷ dữ được lột bỏ, thực chất lương thiện đã hồi sinh trở lại.

Khi tính người trở về, lòng Chí phát sinh tình cảm với Thị Nở. Trong lúc ăn cháo, Thị Nở nhìn chộm Chí rồi lại toe toét cười. Trông Thị thế nhưng có duyên, tình yêu làm cho có duyên. Và chính tình yêu và chỉ có tình yêu mới làm cho cháo hành có hương vị thơm ngon, ngọt ngào chưa từng có. “Hắn húp một húp và trông thấy rằng những người suốt đời ko ăn cháo hành ko biết rằng cháo rất ngon. Cháo được nấu bởi tay của Thị Nở nhưng vẫn thấy ngon. Chí có tình yêu và chính tình yêu mới làm nên điều đó”. Mến thương, trân trọng Thị Nở bao nhiêu, Chí càng căm ghét con quỷ cái nhà Bá Kiến bấy nhiêu. Cái con quỷ lẳng lơ, đĩ thõa chỉ lợi dụng Chí chứ chưa bao giờ yêu Chí. Chí cảm thấy nhục chứ ko thấy yêu đương gì.

Hương vị ngọt ngào của bát cháo hành, tình mến thương ngày càng thấm sâu vào tâm hồn Chí khiến chí như được lột xác, tái sinh. Chí thay đổi hoàn toàn cả về bộ dạng lẫn tính nết. Nói chuẩn xác hơn là Chí trở lại với dung mạo và tính cách của một người lương thiện. Chí còn muốn trở lại với cái xã hội phẳng phiu, thân thiết của những người lương thiện. Chí đặt tất cả niềm tin hi vọng vào Thị Nở. Hơn thế nữa, Chí đã có hành động vô cùng táo tợn và lãng mạn: Chí tỏ tình và cầu hôn Thị Nở. Đương nhiên cách tỏ tình của Chí Phèo rất mộc mạc và chất phác. Được Thị Nở ưng thuận, Chí vô cùng sung sướng hạnh phúc. Từ đây, Chí sẽ có một tổ ấm gia đình, từ đây, Chí trở lại được làm người lương thiện. Đó là khát khao lớn nhất của Chí.

Như vậy, ko chỉ ngừng lại ở việc tả “cái vẻ ngoài của xã hội”, của cuộc sống con người, Nam Cao đã đi sâu vào nội tâm nhân vật. Với những trang văn sống động nhưng chân thực, Nam Cao đã đưa chủ nghĩa hiện thực Việt Nam lên tới trình độ mới, hội nhập với quốc tế: từ chủ nghĩa tả thực lên tới chủ nghĩa hiện tình thực lí. Không chỉ bộc lộ giác quan hiện thực thâm thúy, đoạn văn còn thấm đượm tình cảm thâm thúy, cao đẹp, tiến bộ của Nam Cao. Có thể nói, đoạn văn diễn tả nội tâm của nhân vật Chí Phèo lúc đón nhận bát cháo hành của Thị Nở là đoạn văn hay và để lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc nhất. Ở đó, ta có thể thấy rằng dù con người có bị tha hóa và bị đẩy xuống vũng bùn đen tới đâu thì thẳm sâu trong tâm hồn họ, vẫn có một măng non lương thiện đang sống thầm lặng, lặng lẽ. Nuôi dưỡng mầm cây non đó, Nam Cao đã dìu dắt Chí trở về với cõi thiện. Vậy là bằng ngòi bút chứa chan tình mến thương con người, cũng như Thạch Lam, Nam Cao đã hoàn thành sứ mệnh của một nhà văn chân chính.

5. Phân tích quá trình thức tỉnh của Chí Phèo ngắn gọn mẫu 2

Số phận khổn khổ của người nông dân là đề tài thân thuộc của văn học hiện thực (1930-1945). Là một cây bút thông minh là yêu cầu sống còn của văn học, Nam Cao có những tìm tòi, đổi mới đáng trân trọng. Không ngừng lại ở nỗi khổ sưu cao thuế nặng như các tác phẩm cùng thời “Tắt đèn”, “Bước đường cùng”, Nam Cao đi sâu vào hiện tượng người nông dân bị ta hóa, bị cự tuyệt quyền làm người. Đồng thời, Nam Cao phát hiện và khẳng định thực chất lương thiện của người nông dân bị tha hóa. Những thông minh của Nam Cao được kết tinh từ nhân vật Chí Phèo. Đặc trưng là trong những trang văn diễn tả tâm trạng Chí Phèo từ sau lúc gặp Thị Nở.

Có thể nói, dấu mốc quan trọng nhất tạo nên bước ngoặt quyết định trong cuộc đời Chí Phèo đó là cuộc gặp mặt với Thị Nở. Trước lúc gặp Thị Nở, từ cố nông luong thiện, Chí bị đẩy xuống và nhấn chìm trong vũng bùn tha hóa. Sau lúc gặp Thị, Chí đã vực dậy rũ bùn tha hóa, thức tỉnh hoàn lươn. Vậy Thị Nở là người nào? Là người như thế nào nhưng lại có tác động lớn lao tới cuộc đời Chí Phèo tương tự? Theo ngòi bút của Nam Cao, Thị Nở là người xấu ma chê quỷ hờn, ngơ ngẩn như người đần trong truyện cổ tích. Lại sinh ra trong gia đình nghèo truyền kiếp, có mả hủi. thị chẳng khác gì con vật lạ. Nhưng Thị lại là người duy nhất trong làng Vũ Đại vô tình, vô cảm đó đã tự nguyện kết thân mến thương Chí thật tình. Đương nhiên, ko phải ngay từ lúc gặp Thị, tâm hồn Chí đã thức tỉnh, cái lốt quỷ dữ được lột bỏ. Là một nhà văn am tường thâm thúy tâm lí nhân vật, Nam Cao đã khám phá, mô tả, phân tích diễn biến nội tâm của Chí Phèo từ sau lúc gặp Thị Nở một các chân thực, sống động và đầy xúc cảm.

Ban đầu, cuộc chung chạm với Thị Nở chỉ đánh thức bản năng gã đàn ông cho Chí Phèo. Nhưng sau đó, sự chăm sóc giản dị đầy ân tình và lòng mến thương mộc mạc nhưng thật tình của người nữ giới khốn khổ đó đã làm thực chất lương thiện trong con người Chí thức dậy. Tâm hồn Chí Phèo dần thức tỉnh rồi hối sinh mãnh liệt. Nhưng ngay sau đó, Chí Phèo lại lâm vào thảm kịch đớn đau nhất của cuộc đời mình, là thảm kịch từ chối, cự tuyệt quyền làm người. Sau đêm ân ái với Thị Nở, Chí Phèo tỉnh dậy muộn, hết say và hoàn toàn tỉnh táo. Sau bao nhiêu năm sống trong u mê dằng dặc, lần trước tiên những cảnh vật, âm thanh của cuộc sống bỗng dội vào tâm hồn Chí tạo nên những vang động sâu xa. Chí thấy nắng rực rỡ, tiếng chim hót vui vẻ quá, tiếng cười nói của người đi chợ, tiếng anh thuyền chèo đuổi cá. Lòng chí bâng khuẩng, mơ hồ buồn.
Tỉnh rượi rồi Chí tỉnh ngộ, từ chỗ tê liệt ý thức, Chí bỗng ngộ ra bao điều về đời mình. Chí đã có cái nhìn chuẩn xác về cuộc đời dằng dặc của mình từ quá khứ, hiện nay, tương lai. Nghĩ về những ngày xa xôi, Chí nao nao buồn. Hình như có một thời, Chí ước ao có một gia đình nho nhỏ , chồng quốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải… Nhưng ước mơ nhỏ nhỏ giản dị đó đã tuột khỏi tay Chí từ lúc nào, về phương trời xa xăm nào. Ngẫm về hiện nay, Chí thấy buồn thay cho đời. Chí đã già, đã tới cái dốc bên kia của cuộc đời nhưng vẫn cô độc, trắng tay. Chí ko nhà, ko cửa, ko vợ, ko con. Đời chí đâu chỉ là con số 0 tròn trĩnh nhưng còn là con số âm kinh khủng, đời Chí chồng chất biết bao nhiêu là tội ác. Tương lai phía trước còn đáng buồn hơn. Chỉ có tuổi già đói rét, ốm đau và cô độc. Và chí sợ nhất là sự cô độc, nhưng sợ cô độc tức là Chí thèm khát tình người. Thèm khát tình người đồng nghĩa với việc là tính người đang trở lại trong Chí.

Có thể nói ‘‘Đoạn văn viết về sự thức tỉnh của vong hồn Chí sau đêm gặp mặt với Thị Nở là một đoạn tuyệt bút đầy chất thơ và tập trung trình bày tư tưởng nhân đạo thâm thúy, bất thần của ngòi bút Nam Cao”. Không chỉ ngừng lại ở đó, những diễn biến tâm trạng vô cùng phức tạp tinh xảo của Chí Phèo đã được nhà văn diễn tả thực thực, chuẩn xác, tài tình tới cảm động. Từ hình tượng nhân vật Chí Phèo, trị giá hiện thực và nhân đạo của tác phẩm được bộc lộ thâm thúy mới mẻ và lớn lao.

6. Phân tích quá trình hồi sinh của Chí Phèo

Nam Cao là cây bút vàng trong làng truyện ngắn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Một trong hai đề tài thân thuộc và nổi tiếng của ông đó là hình ảnh người nông dân bị bần hàn hoá, lưu manh hoá. Chí Phèo của Nam Cao là một tuyệt bút trong văn xuôi hiện đại được viết vào năm 1941. Truyện là một chuỗi những thảm kịch của cuộc đời Chí Phèo, như nổi trong đó là quá trình thức tỉnh hồi sinh và thảm kịch cự tuyệt của Chí Phèo trong tác phẩm là một trong những đoạn trình bày thâm thúy ý nghĩa nhân văn và trị giá nhân đạo của tác phẩm đáng được nhắc tới.

Chí Phèo là một đứa trẻ mồ côi ko cha ko mẹ được một ông đổ ống lươn nhặt ở lò gạch về rồi được dân làng nuôi lớn. Lớn lên, Chí vốn là người nông dân hiền lành, lương thiện nhưng đã bị xã hội phong kiến bóc lột, đè nén, áp bức trở thành “con quỷ dữ làng Vũ Đại”.

Chính Bá Kiến vì những ghen tuông tuông mù quáng đã đẩy một anh Chí vô tội vào tù, biến Chí từ một người nông dân hiền lành trở thành một thằng lưu manh, thành tay sai đắc lực cho hắn. Lúc đó, anh bị xã hội ruồng bỏ, bị tước đi mất quyền làm người, bị mất đi cả nhân hình lẫn nhân tính. Và cứ thế Chí Phèo triền miên trong những cơn say. Chưa bao giờ hắn tỉnh, và có nhẽ hắn chưa bao giờ tỉnh táo, để nhớ có hắn ở đời.

Cứ tưởng Chí Phèo mãi mãi sống triền miên trong những cơn say, rồi sẽ kết thúc bằng cách vùi xác ở một bờ bụi nào đó. Nhưng bằng trái tim nhân đạo của một nhà văn lớn, Nam Cao đã để Chí Phèo có dịp để làm lại cuộc đời, để trở lại là một anh Chí lương thiện một lần nữa. Ông đã đem tình thương chạm tới tận đáy trái tim cô độc khát khao mến thương của con người là người ta vẫn gọi là “con quỷ dữ làng Vũ Đại” đó.

Trong một đêm say, hắn tình cờ gặp Thị Nở – người nữ giới dở hơi xấu xí và ế chồng. Đêm hôm đó, họ ăn nằm với nhau như vợ chồng. Sự quan tâm chăm sóc nhưng Thị Nở dành cho hắn sau cái hôm đó dường như đã đánh thức lương tri, đánh thức thực chất lương thiện vốn có đã ngủ quên từ lâu trong con người Chí. Chính là nhờ cuộc gặp mặt đó nhưng trong Chí đã khát khao được hoàn lương để có thể được sống như một con người.

Quá trình hồi sinh của con người trong Chí Phèo sau đêm gặp Thị Nở cho ta thấy khả năng phân tích tâm lý nhân vật xuất sắc của Nam Cao. Khi tỉnh rượu, Chí thấy lòng mình chợt bâng khuâng ”mơ hồ buồn”. Những lần trước, mỗi lúc tỉnh rượu, hắn lại uống, vì thế say kế tiếp say. Còn lần này, Chí Phèo tỉnh rượu với trạng thái khác hẳn “người thì bủn rủn, tay chân ko buồn nhấc, hay là đói rượu, hắn hơi rùng mình.

Ruột gan lại nôn nao lên một tí. Hắn sợ rượu như những người ốm sợ cơm”. Sau bao năm, lần trước tiên trong cuộc đời Chí tỉnh dậy. Tỉnh rượu hay cũng chính là con người đã ngủ quên trong Chí bao lâu nay đã tỉnh lại. Hắn chợt trông thấy nơi căn lều ẩm thấp là ánh nắng ngoài kia rực rỡ biết bao, hắn nghe thấy mọi âm thanh của cuộc sống: tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá trên sông, tiếng lao xao của người đi chợ bán vải về…

Những âm thanh thân thuộc đó hôm nào nhưng chả có, nhưng hôm nay chỉ hôm nay Chí mới cảm nhận và nghe thấy. Âm thanh đó chính như tiếng gọi thiết tha, thôi thúc của cuộc sống vang lên trong tâm hồn vừa được khơi dậy của Chí… Chí nhìn lại cuộc đời mình cả trong quá khứ, hiện nay và tương lai. Cái ước mơ bình dị ngày nào ”có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải…” bỗng dưng trở lại với Chí.

Chí thấy hiện nay của mình thật đáng buồn bởi “hắn đã tới cái dốc bên kia của cuộc đời”. Tương lai đối với hắn, còn đáng buồn hơn, hắn còn lo sợ bởi hắn đã trông thấy trước “tuổi già, đói rét và ốm đau” và nhất là “cô độc”, hắn sợ cô độc. Cứ tương tự, Chí dần lí trí và có nhận thức về chính mình, về cuộc đời mình. Chí đang thức tỉnh một cách toàn diện cả về nhận thức và ý thức và mở màn hồi sinh để trở về với kiếp người.

Khi Chí đang chìm trong những triền miên vô tận lúc nghĩ về cuộc đời mình thì ngay lúc đó thì Thị Nở bưng tới cho Chí Phèo bát cháo hành đang ngun ngút khói. Và nếu như Thị Nở ko qua, chắc là hắn đã khóc được mất. Việc làm này của thị khiến hắn từ ”hết sức ngạc nhiên” tới xúc động ”thấy mắt mình như ươn ướt” bởi vì một lẽ hết sức đơn giản “lần trước tiên hắn được người ta cho…”, “đời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi bàn tay nữ giới”. Hắn còn cảm nhận về hương vị cháo hành, nó thơm và ngon lắm.

Còn Thị Nở, Thị thấy Chí rất hiền. Bát cháo hành của thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Phần người dường như đã ngủ quên trong hắn dần hồi sinh tỉnh dậy. Hành động chăm sóc đầy tình cảm mến thương đó làm tâm trạng Chí đi từ xúc động tới ăn năn, lai tỉnh. Tình yêu của Thị Nở đã mở đường cho Chí Phèo: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao.. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại ko thể được”.

Cùng với mong ước được làm người lương thiện, Chí khát khao hạnh phúc và một mái ấm gia đình. Và hắn nói “Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?”. Lúc này nội tâm của Chí đã bừng tỉnh, lương tri của hắn đã trỗi dậy. Hắn thật sự muốn ”thế này”, muốn được ăn cháo hành, được sống kế bên thị Nở, được thị quan tâm, chăm sóc, mến thương và được làm nũng với thị.. “Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui” một mái ấm gia đình vui vẻ, hạnh phúc, câu nói này giống như một lời cầu hôn của Chí với Thị Nở.

Chí muốn sống như một con người đúng nghĩa, khát khao đc trở lại với cuộc sống tầm thường, được làm hòa với mọi người. Thị Nở chính là người mở ra cánh cửa hoàn lương cho cuộc đời của hắn. Chính tình người của Thị Nở đã thức tỉnh hồi sinh tình phần trong Chí Phèo, thế mới biết sức cảm hóa của tình thương kỳ diệu tới mức nào. Phát hiện và mô tả quá trình thức tỉnh của Chí Phèo là một thành công trong nghệ thuật sắc của Nam Cao. Tác giả đã khéo lựa chọn những cụ thể rất chân thực thể, mô tả tâm lí nhân vật sắc sảo hiện nên ý nghĩa của sự hồi sinh là sự khẳng định sức sống của thiện lương, của lòng lương thiện.

Nhưng, phũ phàng thay thay, cánh cửa cuộc đời vừa hé mở thì cũng ngay tức tốc đóng sầm lại trước mắt Chí Phèo. Những thành kiến của bà cô Thị Nở hay cũng như thành kiến nhưng xã hội này dành cho hắn như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt Chí Phèo dập tắt ngọn lửa hoàn lương vừa nhen nhóm lên trong Chí. Rồi cả Thị Nở, người nữ giới nhưng hắn đặt trọn lòng hi vọng đó nghe lời bà cô cũng” rướn cái môi lớn lao nhưng ném vào hắn bao lời chửi mắng”. Một thảm kịch trong một chuỗi nhưng thảm kịch của cuộc đời anh Chí.

Đó chính là thảm kịch của một con người chết trên ngưỡng cửa trở về với cuộc sống lương thiện, bị cự tuyệt quyền làm người, bị gạt bỏ ra khỏi xã hội nhân loại. Chí Phèo hiểu rằng mình ko còn trở về với lương thiện được nữa. Thành kiến xã hội thông qua bà cô thị Nở ko cho hắn hoàn lương.. Chí Phèo lại uống rượu trong nỗi vô vọng, đớn đau tột cùng ”ôm mặt khóc rưng rức”.

Chí Phèo uống thật say, nhưng lần này ko như mọi lần, càng say thì hắn lại càng tỉnh, càng tỉnh càng trông thấy thảm kịch của cuộc đời mình. Phẫn uất, vô vọng Chí xách dao đi định tới nhà Thị Nở. Trong ý định, Chí định tới nhà đâm chết con “khọm già”, con “đĩ Nở” nhưng sự thức tỉnh ý thức về thân phận trong vô thức Chí tới thẳng nhà Bá Kiến. Hắn trông thấy người nào mới là thủ phạm, người nào mới là kẻ đẩy mình vào bước đường này. Không người nào hết, đó chính là Bá Kiến.

Chí Phèo tới nhà Bá Kiến với tư cách là một nô lệ thức tỉnh, đòi quyền làm người, đòi lương thiện ”Tao muốn làm người lương thiện!… Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những mảnh vết chai trên mặt này?… Tao ko thể làm người lương thiện nữa! Biết ko! Chỉ có một cách… biết ko!” Đó là những câu hỏi ko lời trả lời đầy đắng cay. Câu hỏi chất chứa nỗi đớn đau đầy phẫn uất của một con người thấm thía được nỗi đau khôn xiết của thảm kịch tư nhân.

Câu hỏi đánh thẳng vào khuôn mặt của xã hội bất nghĩa. Câu hỏi như cứa vào tâm can người đọc về một thân phận con người đầy đắng cay trong xã hội cũ. Chí Phèo đã làm thịt bá Kiến rồi tự tử, lấy sự hủy diệt đời mình để khắc phục sự tuyệt vọng của số phận. Đó là sự thức tỉnh về quyền sống, ko chấp nhận một cuộc sống của 1 con quỷ dữ nữa, anh muốn hoàn lương nhưng nhưng xã hội này ko cho phép. Cái chết bi thương của Chí Phèo là lời tố cáo mãnh liệt cái xã hội vô nhân đạo, xã hội thực dân nửa phong kiến. Cái chết đó là cái chết của con người trong thảm kịch đớn đau trước ngưỡng cửa làm lại cuộc đời.

Với hình tượng nhân vật Chí phèo, Nam Cao đã đặt ra thảm kịch của người nông dân trước cách mệnh, đó là thảm kịch bị bần hàn hoá và lưu manh hoá cả người nông dân. Điều này trình bày sự thông cảm thâm thúy của Nam Cao với khát vọng lương thiện trong con người và sự tuyệt vọng của những khát vọng trong hiện thực xã hội đó. Tác phẩm mang nhiều ý nghĩa triết lí thâm thúy được trình bày dưới hình thức nghệ thuật vô cùng lạ mắt.

Tác phẩm Chí Phèo thông qua quá trình thức tỉnh hồi sinh và thảm kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật chính, nhà văn đã mang tới những trị giá nhân văn cao đẹp. Tuy nhiên, tác phẩm cũng đã lên án, tố cáo tội ác của cơ chế thực dân nửa phong kiến đã đàn áp và bóc lột nhân dân lao động. Qua đó nhà văn đồng cảm với những nỗi khổ đau, bị đày đọa và sự tuyệt vọng của những khát vọng của người nông dân. Đồng thời nhà văn cũng kịp thời phát hiện và trân trọng trước vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật và khát khao thay đổi thực tại để mang tới một cuộc sống tốt đẹp hơn.

7. Phân tích quá trình hồi sinh của Chí Phèo cụ thể

Có hạt cát vô tình rơi vào làm xót lòng trai. Tháng năm… năm tháng hạt cát ko mang tên, ko số phận. Hạt cát lại trở thành hạt ngọc quý giá cho đời. Có những tác phẩm ví như đứa con mang nặng đẻ đau qua chín tháng mười ngày của người mẹ: những nhà văn đầy tâm huyết và trách nhiệm với nghề Nam Cao với thiên chức cao cả đó và thai nghén nên đứa con ý thức Chí Phèo, kế bên những Lão Hạc, Đời thừa, Sống mòn.

Chí Phèo, tên nhân vật được Nam Cao đặt thành tên tác phẩm (sau hai lần đổi tên), xuất hiện xuyên suốt tác phẩm với một tấn thảm kịch “bị cự tuyệt quyền làm người”. Nghĩa là từ lúc chào đời Chí đã mang lấy cái thảm kịch tội nghiệp của số phận! Nhưng có nhẽ những diễn biến trầm trọng và hành động của Chí từ lúc gặp Thị Nở tới lúc tự kết liễu cuộc đời là khúc ca bi đát nhất, có thể gọi là thảm kịch nhất trong những thứ gọi là thảm kịch của Chí.

Và Nam Cao, sự hóa thân hài hòa trong cuộc sống của người nông dân nghèo thời kì 1930-1945 với tấm lòng nhân đạo thâm thúy đã tạo nên trị giá của tác phẩm thông qua ngòi bút đầy tài năng của ông.

“Tài sản” duy nhất của một đứa trẻ bị vứt trong cái lò gạch hoang được người ta cứu vớt trước lúc sắp chết chỉ là cái váy đụp “rách như tổ đỉa”. Đó là hình dạng nguyên vẹn của Chí Phèo lúc mới ra đời. Rồi Chí lớn lên, trở thành anh canh điền, sau mấy lần “thay cha đổi mẹ” nhưng cũng ko phải như thế, Chí có được làm con của người nào bao giờ đâu? Anh canh điền chân đất, chăm làm lụng đó vì sự ghen tuông tuông của Bá Kiến đã bị cơ chế nhà tù đế quốc “huấn luyện” mất đi lương tính sau ngày trở lại quê hương.

Chí trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Bao nhiêu máu và nước mắt đã đổ xuống vì hắn. Chính Bá Kiến và uy quyền giai cấp thống trị nhưng hắn là đại diện cùng sức mạnh của đồng tiền đã tha hóa con người của Chí.

Chí mất hẳn nhân hình và nhân tính, hắn chỉ còn có men rượu làm bạn. Ai cũng trách hắn, hắn là kẻ độc thân, nhất là chính bản thân hắn trong mê li trận của mình, hắn đã ko cảm thu được hay thỉnh thoảng cảm nhận nhưng ko thể thay đổi được mọi việc mọi diễn biến xung quanh vì lúc nào hắn cũng say, rồi la hét, rạch mặt ăn vạ để đòi nợ cho gia đình tên Bá Kiến.

Hắn vẫn đương say, vẫn là “con quỷ dữ” cho tới cái đêm trăng đó bên bờ sông. Hắn bắt gặp Thị Nở. Ả nằm ngủ ngon lành, bộ dạng “hớ hênh” làm thức tỉnh một cái gì đó trong hắn. Đó ko phải là tình yêu, nhưng chỉ là “bản năng” song cũng chẳng phải bản năng của con người tầm thường! Rượu điều khiển hắn chứ hắn ko tự chủ được bản thân từ lúc nhận năm hào của Bá Kiến nữa rồi.

Sau đêm đó, hắn bị ốm liệt giường liệt chiếu. Mọi sự chắc cũng sẽ diễn ra tầm thường, hắn cũng sẽ say, sẽ có một mình trong túp lều ọp ẹp của hắn. Nhưng Thị Nở với một tí tình thương trong tâm hồn người phụ nữ đã tới với hắn. Thị mang cho hắn một bát cháo hành. Ôi lạ thật, Chí đã từ ngạc nhiên rồi tới xúc động nghẹn ngào. Bát cháo là ân huệ từ trước tới nay hắn được nhận từ sự quan tâm, chăm sóc của một con người. Mắt hắn rưng rưng, đây là một sự thay đổi trước tiên trong hắn, tự bao giờ có thấy hắn khóc bao giờ? “Ai chưa ăn cháo hành ko biết là cháo rất ngon”. Phcửa ải chăng đời đã dành cho hắn chút ân tình? Và điều gì đã diễn ra ở con người đó?

Hắn đã dần bỏ rượu, cứ nghe mùi rượu là hắn ớn, những phút yêu đương với Thị Nở chiếm hết thời kì của hắn. Hắn tưởng Thị Nở đã chấp nhận hắn thì mọi người ắt sẽ chấp thu được hắn thôi.

Nhưng cánh cửa Thị Nở mở cho hắn về với cuộc đời vội khép lại. “Con mụ” dở hơi đó vì “trông thấy mình còn một bà cô” nên đã “ngừng yêu” về nhà hỏi cô. Bà cô là đại diện cho những khắc nghiệt, những thành kiến của xã hội cùng với tính nết của một bà già còn “ở vậy” đã nghiêm cấm cháu tới với Chí, một thằng suốt đời chỉ biết rạch mặt ăn vạ.

Chí Phèo nào biết mọi việc diễn ra theo chiều hướng xấu. Buổi sáng chờ Thị Nở đối với hắn thật là dài, và hắn thấy “Chao ôi! Buồn”. Mọi vật nhưng hằng ngày vì say mèm hắn quên quan tâm nên thứ gì cũng thấy mới mẻ. Hắn muốn uống rượu nhưng để có thời kì nhưng yêu, nên thôi. Diễn biến tâm trạng của hắn thật là khó diễn tả. Có nhẽ nào con người của ý chí, của lương tri đã sống lại trong hắn? Sự vật xung quanh bừng sáng, âm thanh mái chèo khuấy nước nghe là lạ. “Chao ôi! Buồn”, có gì đâu nhưng chẳng buồn đối với hắn. Hắn chợt nhớ… những ước mơ thời tuổi xanh một mái gia đình nghèo thôi chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải, có chút ít vốn thì nuôi mấy con lợn trong nhà. Anh canh điền của tuổi đôi mươi chợt hiện về trong Chí. Chí khát khao được trở lại với cuộc sống, trở lại với tập thể và trong ý tưởng của Chí thì Thị Nở sẽ là chiếc cầu nối đưa hắn trở về với đồng loại.

Bao dự kiến tốt đẹp nhưng hắn với Thị Nở sẽ làm như mạch suy tưởng của anh Chí với khát vọng sống ngày xưa. Chí chờ Thị và thời kì như đùa cợt hắn. Và rồi Thị tới, Thị đem lại cho hắn, nếu lần trước là bát hành nóng, thì hôm nay là gáo nước lạnh tạt vào mặt. Mọi sự bất thần quá. Hắn cứ tưởng Thị đùa nên lấy làm thú vị. Rồi hắn ngạc nhiên! Và hắn hiểu. Hiểu cái xô của Thị. Lần thứ hai Chí khóc. Không thể mô tả bản mặt của Chí lúc này, hắn rất đáng thương. Nam Cao cũng chỉ có thể nhìn nhận đấy là bản mặt của một con vật lạ khác mặt con quỷ trước đó.

Chí uống mọi lúc để có dũng cảm làm việc gì đó như đi đòi nợ, rạch mặt ăn vạ, hắn chỉ việc uống cho thật say. Quái, sao càng uống càng tỉnh, “những thằng điên và những thằng say ko bao giờ làm những việc nhưng trước đó hắn định làm”. Chí Phèo định tới nhà để “làm thịt chết con mụ khọm già”. Hắn nghĩ tại bà cô của Thị Nở. Hắn xách dao đi trong trạng thái ko say cũng ko tỉnh nhưng ko phải tới nhà bà cô Thị Nở nhưng lối đó tới nhà Bá Kiến.

Khi ko còn gì, dường như lúc đó người ta lại còn rất nhiều. Chí còn gì đâu, nhân hình đã mất, tư cách cũng ko còn, Thị Nở là điểm tựa là niềm ước ao duy nhất của Chí để đưa Chí trở về với cuộc sống của tập thể. Nhưng Thị Nở đã khép mất cánh cửa hi vọng của đời Chí. Chỉ còn mối thù người nào đã xô Chí tới tuyến đường này, tiến ko được, lùi cũng ko xong. Có nhẽ mọi sự đã hết nhưng Chí phải làm cho xong một việc. Đòi lương thiện cho mình.

Lần thứ ba, Chí tới nhà Bá Kiến, kẻ nhưng ngày mới ra tù về làng Chí định sẽ tới đòi nợ. Lần này Chí ko tới lấy mấy hào bố thí, ko đòi đi tù nhưng đòi cái thiêng liêng, cao cả nhất của con người nhưng chính Bá Kiến đã trực tiếp tước mất của Chí.

“Tôi tới để đòi lương thiện”. Câu nói xuất phát từ tận đáy lòng con người đang đi tới mức đường cùng của thảm kịch. Chí Phèo đã vung dao làm thịt chết Bá Kiến và Chí tự kết liễu đời mình ngay ở ngưỡng cửa trở về. Câu hỏi nhức nhối tới đau thương sau cuối của Chí “Ai cho tao lương thiện” và những lần Chí hét “Thì đây… này” chính là câu trả lời của bản thân Chí.

Bằng cảm nhận, người đọc thấy cái lôgic thế tất lời nói và hành động của Chí Phèo ở cuối tác phẩm là rất tự nhiên, rất thích hợp. Đương nhiên dù có những nghiệt ngã và bất thần – cái nghiệt ngã cái tự nhiên, cái lạ như quy luật cuộc sống! Thế nhưng, thử đọc lại và suy ngẫm, ta khó giải nghĩa được thậm chí ta thấy đối ngược với ý niệm thuở đầu: Vì sao Chí Phèo lại có thể nói như một nhà hiền triết? Vì sao con người thực chất nông dân ưa nôm na méc qué và đã có một quá trình bị rượu u mê lại có thể đường hoàng dõng dạc và nói mạch lạc, minh triết tới sâu thẳm cái ước mong vô vọng của mình? Thực ra, cái dõng dạc cái vênh mặt kiêu ngạo, cái lắc đầu lúc đứng trước Bá Kiến lần này là “thừa kế” những lần say tới đòi tiền nhà Đội Tảo, những lần chủ động hung hăng tới gây tai họa cho dân Vũ Đại. Nhưng có nhẽ cái hành động rất linh hoạt này, Chí đã “học” từ Bá Kiến bởi hàng ngày hắn lá mặt lá trái với con quỷ nham hiểm này. Còn lời nói? Cái từ “lương thiện” chẳng đã vang lên như điệp khúc lúc Chí gần Thị Nở? Khi Chí khát khao, hắn thèm lương thiện (…) Họ sẽ trông thấy hắn vào (…) những người lương thiện. Ước mong lứa đôi với Thị Nở, cái “lương thiện” trở thành một bào thai của hi vọng đang động đậy… Nhưng lúc đương đầu với Bá Kiến cái tiếng đó được “Cụ Bá” nhắc lại như nói với thằng say một điều nhưng hắn phải tỉnh.

Ô tưởng gì! Tôi chỉ cần anh lương thiện cho người đời nhờ!

Khát khao cháy bỏng của Chí với cụ Bá lại chỉ là một việc vớ vẩn ko đáng lưu tâm “Ồ tưởng gì” cái việc lấy lương thiện cũng dễ như cái việc uống rượu đòi nợ và ăn vạ. Dù hiểu đời tới mức lọc lõi Bá Kiến cũng ko thể hiểu ước mơ của Chí nó quan hệ tới tử sinh. Thế giới quỷ có bao giờ hiểu toàn cầu – dù là đời thường nhất của người? Do đó lời “cụ Bá” muốn “tri kỉ” với thằng quỷ nhưng mình vắt nặn nên trở thành lời nhạo báng với anh Chí vừa rời lốt quỷ: Chí Phèo nói và day dứt nhiều tới lương thiện có nhẽ là vậy.

Lời nói của Chí Phèo phản ánh một thực tiễn trần truồng tới thô bỉ: “Thành kiến” người đời đã ko thể cho Chí qua một cái con sào ngáng đường, nhưng điều này ko khó lắm, bởi chỉ mình Thị Nở, Thị cũng có khả năng mở chốt nâng sào. Chí giận sôi sùng sục trong lời chất vấn nhưng kết án với Bá Kiến. Thực ra, Chí đang nói những rấm rứt nhưng Thị Nở vừa “Trút vào mặt hắn tất cả lời bà cô”.

Vậy là tiếng nói, giọng điệu thái độ có nhẽ rất lạ của Chí đã có những yếu tố hiện thực tiềm năng trong quá khứ. Nó bất thần và vẫn tự nhiên là vì thế. Nhưng có nhẽ tài năng của Nam Cao ở đây là ông đã mô tả một cách tuyệt vời những “vùng biên” tâm trạng rất vi tế thậm chí mơ hồ của con người, đâu là lời và hành động của Chí Phèo say? Đâu là anh Chí tỉnh? Thật khó rành mạch. Cách phân tích là nên đọc lại và thêm một lần nữa khâm phục Nam Cao. Vậy là Chí ko còn tuyến đường lựa chọn nào khác, xã hội đã ko thừa nhận. Thị Nở cũng đã bỏ hắn, nhưng trở lại với cuộc sống lưu manh tha hóa, thì Chí ko thể nhân tính hắn mất, nhưng phút cuối cùng nó lại trở lại với anh Chí.

Chí Phèo ngắc ngoải trên vũng máu, đây là hình ảnh mang sức tố cáo lớn. Nó tố cáo cơ chế phong kiến, tố cáo nhà tù thực dân với sự nhơ bẩn của đồng tiền đã xô đẩy, tha hóa một con người. Giá trị nhân đạo của một tác phẩm qua ngòi bút của Nam Cao vừa đớn đau vừa như một nhát dao lạnh ông để lại cho thời đại cùng lên án một cơ chế, về một cách cư xử lúc nhìn người ta sung sướng thì ghen tuông tuông vùi dập. Đó là hoàn cảnh với bao nhiêu sự cay độc, gian ác đã giày đạp lên số phận con người. Chí Phèo và tuổi thơ đã là một thảm kịch xót xa ngậm ngùi nhưng Chí Phèo với thảm kịch xâu xé trong tâm hồn và những hành động đã bị ép vào tuyến đường cùng thì càng khiến người đọc đau ran vùng đắng cay, nhức nhối một niềm thương cảm hơn. Chí chỉ ước mong một cuộc đời bình dị, một người vợ cũng tầm thường trong xã hội. Không phải trùng hợp nhưng Nam Cao xây dựng Thị Nở xấu tới nỗi ma chê quỷ hờn, có nhẽ ông đã dụng ý của kì công khắc họa một nhân vật xấu nhất trong văn học Việt Nam xuất phát từ thành tâm đem lại cho Chí một người phụ nữ thích hợp. Khác với mô-típ xây dựng nhân vật của những nhà văn đi trước hoặc cùng thời, nhân vật xấu người đẹp nết hay trái lại, đó đã là một khía cạnh trình bày sự nhân đạo của Nam Cao. Ông nhìn nhận thâm thúy bằng cả trái tim và tâm linh của người viết về cái phần hồn của mỗi người “Với con người phần hồn nặng hơn phần xác” (ý Nguyễn Minh Châu) Chí Phèo và Thị Nở, người thì mất cả nhân hình lẫn nhân tính. Người thì xấu xí lại ương dở “vô tư”. Nhưng chính Nam Cao đã phát xuất hiện phần hồn được đánh thức của họ, xã hội đẩy đưa trong túm bọc thành kiến đã biến chất con người họ chứ như tự tâm hồn họ vẫn khát khao được sống được yêu như những người tầm thường.

Hành động quyết liệt cuối cùng của Chí, tìm tới cái chết, có phải là hạn chế của Nam Cao cũng như nhân vật của chị Dậu của Ngô Tất Tố với cái “tiền trình tối đen như mực”? Đây là điểm nhân đạo lớn của tác giả. Ông ko muốn phải đứng về phía xã hội xưng hô với Chí bằng những tiếng “y” hay “hắn”. Ông ko muốn Chí phải trở về với tuyến đường cũ, về với sự xa cách của xã hội nhưng muốn con quỷ làng Vũ Đại về với cái anh Chí ngày nào và nếu có chết cũng phải cắt đứt cái đuôi “phèo” rất nặng để thăng hoa thành người. Chí Phèo đã rất tội, ngay từ mở đầu “hắn vừa đi vừa chửi”, đây là sự thèm khát được giao tiếp tới tột độ của nhân vật.

Tác phẩm đóng lại nhưng thực ra trong suy nghĩ của người đọc thì vẫn còn mở. Chị Dậu của Ngô Tất Tố về đâu với cái tiền trình tối đen như mực? Còn Chí Phèo, cái chết là gì? Phcửa ải chăng đỉnh cao của bản cáo trạng tố cáo cơ chế phong kiến thực dân là máu của Chí, là nhân mạng? Cái chết như là biểu dương tư cách, nhân tính. Nó khuyên dụ và cảnh cáo.

Nam Cao ơi! Sao rơi chi nhiều nước mắt? Hẳn tác giả đã khóc như bao lần Nguyên Hồng đã òa khóc cho Huệ Chi: “Nó chết rồi”. Cả tác phẩm Chí Phèo vùi trong cơn say, trong những diễn biến tâm trạng không giống nhau còn đối với người đọc, lại là những phút giận và những giờ thương.

Không biết trong cái xã hội đen tối cũ, có bao nhiêu người bị đẩy vào thảm kịch cả về tâm trạng lẫn hành động như Chí Phèo. Hỏi Nam Cao? Hỏi xã hội tấm lòng thương cảm của mỗi con người?

8. Đoạn văn ngắn về quá trình thức tỉnh của Chí phèo

“Chí Phèo” – Nam Cao là một trong những truyện ngắn với đề tài người nông dân trước CMT8 , chúng ta ko thể ko biết tới sự thức tỉnh của Chí Phèo. Chí Phèo trước đã là một con người chuyên rạch mặt ăn vạ, là tay sai cho Bá Kiến để đi đòi nợ. Chí Phéo cứ xoay quanh cuộc sống tương tự. Nhưng chính vào cái đêm định mệnh đó Chí gặp Thị Nở, và sáng hôm sau tỉnh dậy Chí Phèo như đã thức tỉnh hẳn. Hình ảnh bát cháo hành của Thị Nở cũng làm người đọc ko bao giờ quên, chỉ với một bát cháo sốt dẻo, khói bốc ngun ngút đã làm Chí thức tỉnh. Chí Phèo nghĩ mình ko thể sống một cuộc đời tương tự nữa. Trước lúc còn trẻ Chí đã từng ước mong có một ngôi nhà, có vợ và những đứa con. Và sự khát khao được hoàn lương của Chí Phèo đã trỗi dậy sau lúc được thức tỉnh. Với sự trở lại của khả năng nhận thức ngoại giới và nhận thức chính mình (lý trí), cùng những tình cảm, xúc cảm rất con người, Chí đang thức tỉnh một cách tòan diện cả về nhận thức và ý thức và mở màn hồi sinh để trở về với kiếp người.

9. Cảm nhận về quá trình thức tỉnh của Chí phèo

Nam Cao – một trong những cây bút xuất sác nhất của dòng văn học hiện thực,phê phán trước Cm tháng tám .ông nổi tiếng với các sáng tác về đề tài người nông dân và người trí thức tiểu tư sản. Tiêu biểu cho đề tài về người nông dân là tác phẩm “Chí Phèo ” với nhân vật tên Chí. Một con người xấu số nàm trong vòng xoáy thảm kịch cự tuyệt quyền làm người.

Khác hẳn với các nhà văn hiện thực phê phán đương thời, trong tác phẩm “Chí Phèo”, Nam Cao ko đi sâu vào mô tả quá trình đói cơm rách áo, bần hàn khốn khổ… của người nông dân, mặc dù trong thực tiễn, đó cũng là hiện thực phổ thông. Nam Cao trằn trọc, băn khoăn suy ngẫm nhiều hơn về một hiện thực còn thảm khốc, giận dữ hơn cả đói rét bần hàn, đó là hiện thực về sự tha hóa, một mối dọa nạt thảm khốc trong xã hội đương thời, về phẩm chất bị vùi dập, giày đạp bởi một bộ máy thống trị tạn bạo. Vấn đề nhâm phẩm, vấn đề quyền con người được đặt ra, chi phối cảm hứng thông minh trong nhiều thông minh của Nam Cao, trong đó Chí Phèo là tác phẩm trình bày trực tiếp, tập trung mãnh liệt hơn cả. Mở đầu tác phầm là tiếng chửi ngoa ngoắt, thử thách của Chí Phèo đang ngật ngưỡng trong cơn say “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rươu song là hắn chửi. Khởi đầu hắn chửi trời. Có hề gì trời nào của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng cũng chẳng là người nào. Tức mình, hắn chửi tất cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại, người nào cũng tự vấn “Chắc nó trừ mình ra ! “Tức thật ! ờ thế này thì tức thật. Tức chết đi được mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào ko chửi nhau với hắn. Nhưng cũng ko người nào ra điều. Mẹ kiếp! Thế có phí rượu ko? Thế có khổ hắn ko? Không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ tới nông nỗi này. Đẻ ra cái thằng Chí Phèo. “đây là mội tiếng chửi của một tên say rượu, một tiếng chửi vô thức. Nhưng nhiều lúc vô thức, con người lại trình bày chính mình nhiều hơn lúc thức. Qua tiếng chửi của Chí Phèo ta cảm thấy như đang đối diện với một người – một vật quái gở và đơn độc ở tận cùng của sự khổ cực của mình. Và cũng qua lời chửi của Chí Phèo ta cảm thấy được 3 thái độ không giống nhau ,đó là thái độ hằn học thù địch của Chí Phèo, thái độ khinh miệt hờ hững của người đời đối với Chí, thái độ phẫn uất của tác giả trình bày qua giọng văn vừa xót xa vừa tàn nhẫn. Trước kia Chí rất lương thiện. Chỉ sau lúc ở tù về, hắn mới hóa thành một con người khác hẳn, bị tước mất cả nhân tính với “cái đầu trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen và cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết ” sau lúc ở tù về hắn đã trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại nhưng ko biết. Cuộc đời hắn ko có tháng ngày bởi những cơn say triền miên … Hắn ăn và ngủ trong cơn say, đập đầu rạch mặt chửi bới trong lúc say, để rồi say nữa , say vô tận … Trong tác phẩm “Chí Phèo ” Nam Cao đã chỉ ra rằng Chí Phèo ko phải là một ngoại lệ. Cùng với hắn còn có Binh Chức, Năm Thọ. Đó là kết quả thế tất cho một logic, một lúc đã có Bá Kiến, Lí Cương, Đội Tảo… thì ắt sẽ có Chí Phèo, Binh Chức, Năm Thọ. Đó ko phải chỉ là thành phầm của sự thống trị nhưng thậm trí còn là phương tiện tối cần thiết để thống trị. Như thế xã hội ko chỉ đẻ ra Chí Phèo nhưng còn tiếp tục nuôi Chí Phèo, biến những người như Chí Phèo thành phương tiện thống trị của chúng. Những người dân lương thiện đó bị trở thành phương tiện, phương tiện thống trị cho quân thù nhưng ko tự biết. Nam Cao đã chỉ ra hậu quả của sự soi sáng vào quá trình mô tả một cảm hứng nhân văn thâm thúy. Nhưng điều rực rỡ ở tác giả là ngay trong lúc mô tả nhân vật bị tha hóa tới tận cùng, ông vẫn phát xuất hiện chiều sâu của nhân vật bản tính tốt đẹp vốn có, chỉ cần một tí tình thương khẽ chạm vào là có thể sống dậy mãnh liệt, tha thiết. Vì vậy, sự xuất hiện của Thị Nở – con người dường như tụ hội đủ tất cả yếu tố bất lợi cho một người phụ nữ, có một ý nghĩa thật đặt sắc. Con Người xấu ” ma chê quỷ hờn ” đó, kì diệu thay, lại là nguồn ánh sáng duy nhất dọi vào chốn u tối của Chí Phèo, thức tỉnh, gợi dậy bản tính người bên trong Chí Phèo, thắp sáng một trái tim đã bị ngủ mê qua bao tháng ngày bị vùi dập và hắt hủi. Sau lúc gặp Thị Nở, Chí Phèo được tập trung mô tả qua tâm trạng thảm kịch. Đó là một buổi sáng thật trong sạch, bao nhiêu âm thanh êm đềm, bình dị, thân thiết dã dội vào lòng thức tỉnh của con người trong Chí Phèo. Tất cả những hình ảnh đấy, âm thanh đấy gợi nhác những giấc mơ xa xôi một thời đã làm cho Chí Phèo cảm thấy cô độc, nhất là sự cô độc lúc tuổi già, cái này còn sợ hơn đói rét bệnh tật. Như vậy tình mến thương mộc mạc của Thị Nở đã đánh thức được cái thực chất lương thiện của Chí Phèo, sau bao ngày chìm đắm trong cơn say, sau bao ngày hung hãn, hoang dại như một con thú mang hình người. Khi Thị Nở bưng bát cháo hành tới, nhìn bát cháo hành bốc khói nhưng lòng Chí xao xuyến bâng khuâng “. Hắn cảm thấy long thành trẻ em, hắn muốn được làm nũng với Thị như làm nũng với mẹ …Ôi sao nhưng hắn hiền ! Hắn thèm lương thiện – Hắn khát khao được làm hòa với mọi người ” Tù một con quỷ dữ, nhờ Thị Nở, đúng hơn là nhờ tình thưong của Thị Nở, Chí thực sự trở lại làm con người, với tất cả nhưng năng lực vốn có của con người là mến thương, xúc cảm, ước ao. Hóa ra chỉ cần một tí tình thương, dù là tình thương của một con người dở hơi, bệnh thiến, thô kệch, xấu xí … cũng đủ làm sống dậy cả một bản tính người nơi Chí. Thế mới biết sức cảm hóa của tình thương kỳ diệu tới mức nào ! Bằng cụ thể này Nam Cao đã soi vào tác phẩm một ánh sáng nhân đạo thật xinh tươi, nhà văn như muốn hòa vào nhân vật để thông cảm, san sớt nhưng khoảnh khắc hạnh phúc thật hiếm hoi của Chí Phèo. Nhưng thảm kịch và đớn đau thay, ngay cả Thị Nở cũng ko thế gắn bó với Chí Phèo. Và thật khắc nhiệt, lúc bản tính nơi Chí trỗi dậy, Chí hiểu rằng mình ko còn trở về với lương thiện được nữa. Chí uống rượu và càng uống lại càng tỉnh và hắn thấm thía nỗi đau thân phận con người, càng thấm thía nỗi đau đã cướp đi cái quyền làm người của hắn, cướp đi cả khuôn mặt lẫn tâm hồn người. Vậy nên, thay vì tới nhà Thị Nở, Chí Phèo đã tới nhà Bá Kiến vì lòng căm thù xưa nay nay cháy bùng lên làm cho Chí Phèo vô cùng tỉnh táo. Hành động này quá bất thần đối với Bá Kiến, với cả làng Vũ Đại. Ai cũng coi đây là vụ làm thịt người dữ dội của con quỷ dữ Chí Phèo. Nhưng hôm nay, tâm hồn người trở về, mọi người cũng ko trông thấy. Nam Cao mô tả thảm kịch cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo hết sức tinh tế và thâm thúy như là một quá trình tự vận động của tính cách. Từ lương thiện trở thành lưu manh. Từ một kẻ đâm thuê chém mướn bỗng thèm lương thiện, bị cự tuyệt quyền làm người thì trả thù kẻ làm hại đời mình rồi tự tử. Nam Cao vừa vạch trần cái xã hội thối nát , độc ác vừa lên tiếng đấu tranh cho những người nông dân lương thiện bị đẩy vào con đương tha hóa, lưu manh hóa.

Truyện Chí Phèo là một truyện ngắn lạ mắt, thấm nhuần ý thức nhân đạo. Một Chí Phèo tỉnh đã làm thịt chết một Chí Phèo say. Chí chết nhưng đọng lại trong ta hình ảnh Chí đòi quyền sống, quyền được lương thiện, và Chí chết trong thảm kịch của sự đớn đau. Đây ko phải hành động lưu manh nhưng là sự vùng lên vô vọng của người nông dân lúc thức tỉnh cuộc sống.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên phân mục Tài liệu của THPT Đào Duy Anh VN.

.



Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button